Nghiên cứu

NGÀNH CHĂN NUÔI TẠI VIỆT NAM

Nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ thịt, trứng, sữa năm 2018

Theo các nghiên cứu của Dự án Nourishing the Planet của Viện Nghiên cứu Worldwatch, sản xuất và tiêu thụ thịt toàn cầu tăng nhanh trong những thập kỷ gần đây, ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe cộng đồng cũng như nền kinh tế. Sản lượng thịt thế giới tăng gấp 3 lần trong 4 thập kỷ qua và tăng 20% chỉ trong 10 năm qua. Số liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ cho thấy, năm 2016, sản lượng thịt thế giới ước đạt 258,2 triệu tấn (thịt bò, heo, gà). Sản xuất thịt quy mô lớn cũng có những hệ lụy nghiêm trọng đối với khí hậu thế giới. Tình trạng bẩn, đông đúc ở các trang trại gây ra nhiều dịch bệnh, như dịch cúm gia cầm H1N1, H5N1; Bệnh lở mồm long móng và bệnh bò điên… Những dịch bệnh này gây thiệt hại kinh tế to lớn mỗi năm. Bên cạnh đó, khối lượng kháng sinh được sử dụng trên gia súc, gia cầm để giảm tác động của bệnh cũng khiến tình trạng kháng sinh ngày càng gia tăng trên cả người và động vật. Người tiêu dùng ngày càng chú trọng đến chất lượng sau nhiều vụ bê bối về thực phẩm trong suốt thời gian qua từ sữa chứa melamin, thịt và các sản phẩm từ thịt bẩn và ngậm hóa chất,… tiêu chí lựa chọn thực phẩm lại càng khắc khe hơn, bên cạnh đó cũng sẵn sàng chi trả nhiều hơn để có bữa ăn đạt chất lượng hơn “xanh, sạch, hữu cơ,…”.

Không chỉ thay đổi ở hành vi tiêu dùng mà còn thay đổi ở chế độ ăn uống. Nhiều nơi trên thế giới có xu hướng giảm tiêu thụ các sản phẩm từ động vật, theo số liệu nghiên cứu Euromonitor, doanh số thịt heo đã giảm dần trong 3 năm qua. Hay tại thị trường châu Âu, xu hướng giảm tiêu thụ thịt bắt đầu tác động đến ngành chăn nuôi. Một nghiên cứu công bố trong Hội chợ Quốc tế về Thực phẩm và Đồ uống vừa kết thúc tại Cộng hòa Liên bang Đức trong tháng 10/2017 cho thấy, 10 người Đức được hỏi, có tới 7 người có ý thức giảm ăn thịt trong vòng 6 tháng trở lại đây. Họ lo ngại rằng ăn quá nhiều thịt không tốt cho sức khỏe. Ngày càng có nhiều thanh niên quan tâm đến chế độ ăn lành mạnh. Đồ ăn nhanh cũng được, pizza cũng không sao, miễn là nhiều rau, ít thịt.

Ở các nước đang phát triển, tình trạng thực phẩm ngoại nhập chiếm số lượng lớn tại các siêu thị và được nhiều người ưa chuộng. Chênh lệch giá giữa hàng ngoại nhập và nội địa không nhiều, thậm chí một số mặt hàng có giá “mềm” hơn so với sản phẩm được sản xuất trong nước.

Theo Bộ NN&PTNT, tình hình chăn nuôi năm 2017 gặp nhiều biến động, nhất là giá thịt lợn giảm sâu từ đầu năm đến giữa năm khiến người chăn nuôi chịu thua lỗ phải giảm, bỏ đàn, thậm chí là treo chuồng. Sau nhiều nỗ lực phục hồi, kết thúc năm 2017, tổng đàn lợn cả nước đạt 27,4 triệu con, giảm 5,7% so cùng kỳ năm ngoái, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 3,7 triệu tấn, tăng 1,9%. Tương tự, đàn gia cầm là 385,5 triệu con, tăng 6,6%, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 1,03 triệu tấn, tăng 7,3%…Theo Cục Chăn nuôi, năm 2017, giá trị sản xuất chăn nuôi ước đạt 230.000 tỷ đồng theo giá cố định năm 2010 (khoảng 10,25 tỷ USD), tốc độ tăng trưởng cùng kỳ so với năm 2016 đạt khoảng 3,05%.

Về sữa, xu hướng dùng sữa có nguồn gốc thực vật phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Theo BBC, 4/10 hộ gia đình ở Anh hiện nay chuyển sang dùng các loại sữa có nguồn gốc thực vật thay thế cho sữa bò. Tại Mỹ, thống kê mới nhất cho thấy, cứ 10 người thì có đến 6 người tìm kiếm những thực phẩm chức năng được chiết xuất từ thành phần tự nhiên, không hóa chất, không chất bảo quản. Thị trường sữa có nguồn gốc thực vật trên thế giới đang tăng mạnh và được chú ý trong những năm gần đây, chủ yếu do người tiêu dùng có khuynh hướng tìm kiếm các sản phẩm có lợi cho sức khỏe và không gây hại cho môi trường trong quá trình sản xuất. Tại Việt Nam, theo Innova Market Insights, số lượng sản phẩm thay thế sữa động vật có tốc độ tăng trưởng kép đạt 20%/năm trong giai đoạn 2012 – 2016. Trong khi đó, số lượng sản phẩm đồ uống nguồn gốc thực vật trên thế giới đã tăng gấp 3 lần trong giai đoạn 2012 – 2016.

Cụ thể, đối với các loại đồ uống có nguồn gốc từ sữa thực vật – sữa hạt được dự báo sẽ tăng lên tới 16,3 tỷ USD trong năm 2018 (tăng gấp hơn 2 lần so với mức 7,4 tỷ USD của năm 2010). Trong năm 2017, Betrimex – trực thuộc Tập đoàn Thành Thành Công đã ra mắt thành công sản phẩm nước dừa đóng hộp thương hiệu Cocoxim tại thị trường Việt Nam, nhanh chóng đáp ứng xu hướng người tiêu dùng và đảm bảo không gây hại cho môi trường. Hoặc vào tháng 3/2018, TH Truemilk đã mang đến người tiêu dùng một sự kết hợp mới mẻ giữa sữa tươi và sữa hạt. Chưa có chứng minh nào về sự kết hợp này mang lại kết quả nổi bật; tuy nhiên nếu xét riêng từng loại sữa thì việc kết hợp này giúp chúng bổ sung các chất dinh dưỡng cho nhau.

Dù đạt mức tăng trưởng nhanh chống và phù hợp với hướng thay đổi của người tiêu dùng; nếu xét về mặt dinh dưỡng, để đảm bảo sức khỏe con người đặc biệt là ở trẻ em, vẫn cần phải uống bổ sung. Sữa bò giàu protein, canxi, phot-pho, vitamin D và các khoáng chất, cần thiết cho sự phát triển cơ thể trẻ em và các chức năng khác của cơ thể, ví dụ hệ miễn dịch và xương khớp…

Thống kê trong năm 2017:

Doanh thu toàn ngành sữa đạt hơn 100.000 tỷ đồng (tăng 10.5% so với năm 2016). Trong đó, sản phẩm sữa tươi đạt hơn 1.333,4 triệu lít, sữa bột đạt 127,4 ngàn tấn. Hiện tại, ngành sữa đã và đang đóng góp tích cực vào nền kinh tế của đất nước với mức tăng trưởng nhanh chóng, năm sau luôn cao hơn năm trước, trung bình từ 15% – 17%/ năm.

Mặt khác, quy hoạch Phát triển ngành công nghiệp chế biến sữa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025; trong đó, đặt mục tiêu đến năm 2020 sản xuất 2,6 tỷ lít, mức tiêu thụ 27 lít/người/năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 120 – 130 triệu USD và đến năm 2025 sản xuất 3.4 tỷ lít, mức tiêu thụ 34 lít/người/năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 150 – 200 triệu USD, sẽ tạo động lực cho các doanh nghiệp ngành sữa không ngừng quan tâm đầu tư nguồn nguyên liệu trong nước.

TS.Trần Đình Luân, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản cho biết: năm 2017 tổng sản lượng thủy sản đạt 7,22 triệu tấn (khai thác 3,98 triệu tấn, nuôi trồng 3,83 triệu tấn), giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 8.317 tỷ USD tăng 19% so cùng kỳ năm 2016, tổng giá trị sản xuất thủy sản đạt 211,8 nghìn tỷ đồng, điều đặc biệt hơn đây là một năm mà thủy sản Việt Nam vừa được mùa, vừa được giá. Trong năm 2017, EU đã vượt qua Hoa Kỳ trở thành thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam với trị giá đạt 1,46 tỷ USD, tăng 22% so với năm 2016. Các thị trường khác tiêu thụ thủy sản lớn của Việt Nam bao gồm: Hoa Kỳ đạt 1,41 tỷ USD, giảm nhẹ 1,9% so với năm 2016; trong khi đó xuất khẩu sang Nhật Bản tăng 18,6%, đạt 1,3 tỷ USD; Trung Quốc đạt 1,09 tỷ USD, tăng 59,4%; Hàn Quốc đạt 779 triệu USD, tăng 28,1%… Năm 2018, ngành thủy sản đặt mục tiêu phấn đấu tốc độ tăng giá trị sản xuất 5,3-5,8%, tổng sản lượng thủy sản đạt từ 7 – 7,5 triệu tấn, trong đó sản lượng khai thác thủy sản 3 – 3,5 triệu tấn (giảm 11,5% chủ yếu khai thác ven bờ nhằm bảo vệ nguồn lợi thủy sản), sản lượng nuôi trồng thủy sản 4 triệu tấn. Cụ thể, nuôi trồng thủy sản, sản lượng tôm các loại 750 nghìn tấn (tôm sú 290 nghìn tấn, tôm thẻ chân trắng 430 nghìn tấn; sản lượng cá tra 1,3 triệu tấn, khai thác thủy sản 2,8 – 3 triệu tấn.

Với mục tiêu kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt 9 tỷ USD trong năm 2018 đề ra thì khó khăn, thách thức vẫn còn nhiều. Theo đó cần rất nhiều giải pháp để ngành phát triển bền vững và hiệu quả. Hướng đến thị trường xuất khẩu, thị trường châu Âu thì các sản phẩm giá trị gia tăng túi nhỏ đang là xu hướng rất quan trọng khi người tiêu dùng đang ưa chuộng sản phẩm có thể nấu được ngay, tiếp đó là những sản phẩm lành mạnh có lợi cho sức khỏe. Doanh nghiệp Việt Nam cần nắm bắt được xu hướng để tăng cường quảng bá những mặt hàng phù hợp và giảm xuất khẩu nguyên liệu thô. Những năm gần đây, khách hàng Đông Âu đã biết đến hội chợ và đến đây để gặp gỡ doanh nghiệp Việt Nam, chứng tỏ việc tham gia triển lãm Brussels là rất quan trọng và hiệu quả cho những doanh nghiệp muốn xúc tiến thương mại vào thị trường Đông Âu. Theo dự báo của FAO, Trung Quốc sẽ là nước nhập khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, tiêu thụ thủy sản tươi tăng 4,8%/năm từ nay đến năm 2020, tiêu thụ bình quân đầu người đạt 35,9kg/người năm 2020 (năm 2010 là 33,1kg/người). Trong bối cảnh xuất khẩu sang Mỹ và EU tăng trưởng chậm, Trung Quốc đang và tiếp tục là thị trường thay thế tiềm năng với cơ hội cũng như dư địa tăng trưởng xuất khẩu lớn. Mặc dù vậy, Trung Quốc đã trở thành một thị trường yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm. Theo đó, nước này tăng cường quản lý khu vực biên giới, siết chặt việc nhập khẩu qua đường tiểu ngạch, kiểm dịch và quản lý chất lượng hàng nhập khẩu. Không dừng lại ở đó, Trung Quốc còn kéo dài quá trình xem xét mở cửa chính thức tùy theo nhu cầu nhập khẩu tại từng thời điểm.

Thay đổi để phát triển

Trong vòng 10-15 năm tới, một loạt các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế và các yếu tố khác sẽ làm thay đổi bối cảnh mà nền nông nghiệp của Việt Nam sẽ cần phải cạnh tranh. Việt Nam sẽ trải qua quá trình đô thị hoá hơn nữa (khoảng 50% vào năm 2025) và mở rộng lớn ở tầng lớp trung lưu. Các mô hình ăn uống và chi tiêu thức ăn của người tiêu dùng trong nước sẽ tiếp tục thay đổi với mức tiêu thụ gạo giảm và tăng tiêu thụ sản phẩm động vật, trái cây và rau quả, và thực phẩm chế biến. Biến đổi khí hậu dự kiến sẽ làm phát sinh các kiểu thời tiết thất thường hơn. Các thỏa thuận gần đây sẽ giúp nền kinh tế của Việt Nam ngày càng được tích hợp cả trong khu vực và quốc tế. Điển hình và tác động mạnh mẽ đến nền chăn nuôi đó chính là Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) sẽ vừa là thách thức cũng như là cơ hội đối với doanh nghiệp Việt.

Năng suất nông nghiệp bền vững và tăng trưởng

Cho phép (nhỏ) các trang trại để đạt được các nền kinh tế của quy mô. Việc hợp nhất đất đai dưới nhiều hình thức sẽ rất quan trọng để nâng cấp hệ thống sản xuất và chất lượng sản phẩm, giảm chi phí giao dịch trong chuỗi giá trị và giúp các hộ gia đình đạt được và duy trì mức sống trung bình ít nhất một phần trong nông nghiệp. Hợp nhất đất đai cũng sẽ cho phép cơ giới hóa hơn nữa, một quá trình sẽ ngày càng trở nên quan trọng khi chi phí lao động tăng lên. Việt Nam đã chứng minh rằng sự phát triển của thị trường cho thuê đất có thể cung cấp một con đường quan trọng để củng cố đất nếu không có trong tiêu đề, sau đó trong thực tế. Về mặt này, sẽ thu được nhiều lợi ích từ các dịch vụ đất được cải thiện (ví dụ, thông tin, ghi chép, giải quyết tranh chấp) và các biện pháp can thiệp khác nhằm nâng cao hiệu quả của thị trường cho thuê đất. Với cùng một dấu hiệu, có thể có những lợi ích đáng kể từ các biện pháp can thiệp giúp nông dân nắm lấy hành động tập thể, hoặc cho phép các doanh nhân phát triển nền kinh tế chia sẻ trên cơ sở thương mại, cho phép các nền kinh tế có quy mô nổi lên trên cơ sở nguồn lực gộp lại.

Tiếp tục tạo điều kiện đa dạng hóa nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu thực phẩm mới nổi và cải thiện cơ hội thu nhập và việc làm. Trong số những thứ khác, điều này sẽ yêu cầu nông dân có nhiều lựa chọn sử dụng đất hơn bằng cách nới lỏng các hạn chế về sử dụng đất lúa, cải thiện dịch vụ tưới tiêu và phát triển cơ sở hạ tầng thủy lợi linh hoạt hơn để trồng các loại cây trồng khác nhau.

Các ví dụ khác về các biện pháp hỗ trợ bao gồm tăng cường sức khỏe động vật và dịch vụ giám sát dịch hại, thực thi tốt hơn các quy định liên quan đến việc sử dụng hóa chất nông nghiệp và thuốc kháng sinh, và tạo điều kiện tiếp cận tài chính cho nông dân và doanh nghiệp nhỏ.

2018-12-05T19:18:25+07:00

Đọc tiếp